DayThemIconLogo
DayThemTextLogoDayThemSpecificTextLogo
Câu
1
trên 8
ab testing

Bộ đề thi giữa kì Ngữ Văn lớp 11 có đáp án - Đề 3

Trắc nghiệm văn lớp 11

calendar

Ngày đăng: 11-09-2025

oClockCircle

Thời gian làm: 00:18:00

L

Biên soạn tệp:

Phan Đình Chính Lợi

Tổng câu hỏi:

8

Ngày tạo:

10-09-2025

Tổng điểm:

10 Điểm

Câu hỏi

Số điểm

Lời giải

  1. Câu 1

    Sở kiến hành

    Nguyễn Du

    Hữu phụ huề tam nhi
    Tương tương toạ đạo bàng
    Tiểu giả tại hoài trung
    Ðại giả trì trúc khuông
    Khuông trung hà sở thịnh
    Lê hoắc tạp tì khang
    Nhật án bất đắc thực
    Y quần hà khuông nhương
    Kiến nhân bất ngưỡng thị
    Lệ lưu khâm lang lang
    Quần nhi thả hỉ tiếu
    Bất tri mẫu tâm thương
    Mẫu tâm thương như hà
    Tuế cơ lưu dị hương
    Dị hương sảo phong thục
    Mễ giá bất thậm ngang
    Bất tích khí hương thổ
    Cẩu đồ cứu sinh phương
    Nhất nhân kiệt dung lực
    Bất sung tứ khẩu lương
    Duyên nhai nhật khất thực
    Thử kế an khả trường
    Nhãn hạ uỷ câu hác
    Huyết nhục tự sài lang
    Mẫu tử bất túc tuất
    Phủ nhi tăng đoạn trường
    Kỳ thống tại tâm đầu
    Thiên nhật giai vị hoàng
    Âm phong phiêu nhiên chí
    Hành nhân diệc thê hoàng
    Tạc tiêu Tây Hà dịch
    Cung cụ hà trương hoàng
    Lộc cân tạp ngư xí
    Mãn trác trần trư dương
    Trưởng quan bất hạ trợ
    Tiểu môn chỉ lược thường
    Bát khí vô cố tích
    Lân cẩu yếm cao lương
    Bất tri quan đạo thượng
    Hữu thử cùng nhi nương
    Thuỳ nhân tả thử đồ
    Trì dĩ phụng quân vương

    Những điều trông thấy

    Nguyễn Du

    Có người đàn bà dắt ba đứa con
    Cùng nhau ngồi bên đường
    Ðứa nhỏ trong bụng mẹ
    Ðứa lớn cầm giỏ tre
    Trong giỏ đựng gì lắm thế?
    Rau lê, hoắc lẫn cám
    Qua trưa rồi chưa được ăn
    Áo quần sao mà rách rưới quá
    Thấy người không ngẩng nhìn
    Nước mắt chảy ròng ròng trên áo
    Lũ con vẫn vui cười
    Không biết lòng mẹ đau
    Lòng mẹ đau ra sao?
    Năm đói lưu lạc đến làng khác
    Làng khác mùa màng tốt hơn
    Giá gạo không cao quá
    Không hối tiếc đã bỏ làng đi
    Miễn sao tìm được phương tiện sống
    Một người làm hết sức
    Không đủ nuôi bốn miệng ăn
    Dọc đường mỗi ngày đi ăn mày
    Cách ấy làm sao kéo dài mãi được
    Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh
    Máu thịt nuôi lang sói
    Mẹ chết không thương tiếc
    Vỗ về con càng thêm đứt ruột
    Trong lòng đau xót lạ thường
    Mặt trời vì thế phải vàng uá
    Gió lạnh bỗng ào tới
    Người đi đường cũng đau đớn làm sao
    Ðêm qua ở trạm Tây Hà
    Tiệc tùng cung phụng khoa trương quá mức
    Gân hươu cùng vây cá
    Ðầy bàn thịt heo, thịt dê
    Quan lớn không thèm đụng đũa
    Ðám theo hầu chỉ nếm qua
    Vứt bỏ không luyến tiếc
    Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon
    Không biết trên đường cái
    Có mẹ con đói khổ nhà này
    Ai người vẽ bức tranh đó
    Ðem dâng lên nhà vua

    Dòng nào cung cấp thông tin cơ bản về bài thơ Những điều trông thấy?

    • A.

      Bài thơ rút trong Thanh Hiên thi tập, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • B.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • C.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, thơ tự do.

    • D.
      Bài thơ rút trong Nam trung tạp ngâm, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
  2. Câu 2

    Sở kiến hành

    Nguyễn Du

    Hữu phụ huề tam nhi
    Tương tương toạ đạo bàng
    Tiểu giả tại hoài trung
    Ðại giả trì trúc khuông
    Khuông trung hà sở thịnh
    Lê hoắc tạp tì khang
    Nhật án bất đắc thực
    Y quần hà khuông nhương
    Kiến nhân bất ngưỡng thị
    Lệ lưu khâm lang lang
    Quần nhi thả hỉ tiếu
    Bất tri mẫu tâm thương
    Mẫu tâm thương như hà
    Tuế cơ lưu dị hương
    Dị hương sảo phong thục
    Mễ giá bất thậm ngang
    Bất tích khí hương thổ
    Cẩu đồ cứu sinh phương
    Nhất nhân kiệt dung lực
    Bất sung tứ khẩu lương
    Duyên nhai nhật khất thực
    Thử kế an khả trường
    Nhãn hạ uỷ câu hác
    Huyết nhục tự sài lang
    Mẫu tử bất túc tuất
    Phủ nhi tăng đoạn trường
    Kỳ thống tại tâm đầu
    Thiên nhật giai vị hoàng
    Âm phong phiêu nhiên chí
    Hành nhân diệc thê hoàng
    Tạc tiêu Tây Hà dịch
    Cung cụ hà trương hoàng
    Lộc cân tạp ngư xí
    Mãn trác trần trư dương
    Trưởng quan bất hạ trợ
    Tiểu môn chỉ lược thường
    Bát khí vô cố tích
    Lân cẩu yếm cao lương
    Bất tri quan đạo thượng
    Hữu thử cùng nhi nương
    Thuỳ nhân tả thử đồ
    Trì dĩ phụng quân vương

    Những điều trông thấy

    Nguyễn Du

    Có người đàn bà dắt ba đứa con
    Cùng nhau ngồi bên đường
    Ðứa nhỏ trong bụng mẹ
    Ðứa lớn cầm giỏ tre
    Trong giỏ đựng gì lắm thế?
    Rau lê, hoắc lẫn cám
    Qua trưa rồi chưa được ăn
    Áo quần sao mà rách rưới quá
    Thấy người không ngẩng nhìn
    Nước mắt chảy ròng ròng trên áo
    Lũ con vẫn vui cười
    Không biết lòng mẹ đau
    Lòng mẹ đau ra sao?
    Năm đói lưu lạc đến làng khác
    Làng khác mùa màng tốt hơn
    Giá gạo không cao quá
    Không hối tiếc đã bỏ làng đi
    Miễn sao tìm được phương tiện sống
    Một người làm hết sức
    Không đủ nuôi bốn miệng ăn
    Dọc đường mỗi ngày đi ăn mày
    Cách ấy làm sao kéo dài mãi được
    Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh
    Máu thịt nuôi lang sói
    Mẹ chết không thương tiếc
    Vỗ về con càng thêm đứt ruột
    Trong lòng đau xót lạ thường
    Mặt trời vì thế phải vàng uá
    Gió lạnh bỗng ào tới
    Người đi đường cũng đau đớn làm sao
    Ðêm qua ở trạm Tây Hà
    Tiệc tùng cung phụng khoa trương quá mức
    Gân hươu cùng vây cá
    Ðầy bàn thịt heo, thịt dê
    Quan lớn không thèm đụng đũa
    Ðám theo hầu chỉ nếm qua
    Vứt bỏ không luyến tiếc
    Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon
    Không biết trên đường cái
    Có mẹ con đói khổ nhà này
    Ai người vẽ bức tranh đó
    Ðem dâng lên nhà vua

    Dòng nào cung cấp thông tin cơ bản về bài thơ Những điều trông thấy?

    • A.

      Bài thơ rút trong Thanh Hiên thi tập, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • B.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • C.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, thơ tự do.

    • D.
      Bài thơ rút trong Nam trung tạp ngâm, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
  3. Câu 3

    Sở kiến hành

    Nguyễn Du

    Hữu phụ huề tam nhi
    Tương tương toạ đạo bàng
    Tiểu giả tại hoài trung
    Ðại giả trì trúc khuông
    Khuông trung hà sở thịnh
    Lê hoắc tạp tì khang
    Nhật án bất đắc thực
    Y quần hà khuông nhương
    Kiến nhân bất ngưỡng thị
    Lệ lưu khâm lang lang
    Quần nhi thả hỉ tiếu
    Bất tri mẫu tâm thương
    Mẫu tâm thương như hà
    Tuế cơ lưu dị hương
    Dị hương sảo phong thục
    Mễ giá bất thậm ngang
    Bất tích khí hương thổ
    Cẩu đồ cứu sinh phương
    Nhất nhân kiệt dung lực
    Bất sung tứ khẩu lương
    Duyên nhai nhật khất thực
    Thử kế an khả trường
    Nhãn hạ uỷ câu hác
    Huyết nhục tự sài lang
    Mẫu tử bất túc tuất
    Phủ nhi tăng đoạn trường
    Kỳ thống tại tâm đầu
    Thiên nhật giai vị hoàng
    Âm phong phiêu nhiên chí
    Hành nhân diệc thê hoàng
    Tạc tiêu Tây Hà dịch
    Cung cụ hà trương hoàng
    Lộc cân tạp ngư xí
    Mãn trác trần trư dương
    Trưởng quan bất hạ trợ
    Tiểu môn chỉ lược thường
    Bát khí vô cố tích
    Lân cẩu yếm cao lương
    Bất tri quan đạo thượng
    Hữu thử cùng nhi nương
    Thuỳ nhân tả thử đồ
    Trì dĩ phụng quân vương

    Những điều trông thấy

    Nguyễn Du

    Có người đàn bà dắt ba đứa con
    Cùng nhau ngồi bên đường
    Ðứa nhỏ trong bụng mẹ
    Ðứa lớn cầm giỏ tre
    Trong giỏ đựng gì lắm thế?
    Rau lê, hoắc lẫn cám
    Qua trưa rồi chưa được ăn
    Áo quần sao mà rách rưới quá
    Thấy người không ngẩng nhìn
    Nước mắt chảy ròng ròng trên áo
    Lũ con vẫn vui cười
    Không biết lòng mẹ đau
    Lòng mẹ đau ra sao?
    Năm đói lưu lạc đến làng khác
    Làng khác mùa màng tốt hơn
    Giá gạo không cao quá
    Không hối tiếc đã bỏ làng đi
    Miễn sao tìm được phương tiện sống
    Một người làm hết sức
    Không đủ nuôi bốn miệng ăn
    Dọc đường mỗi ngày đi ăn mày
    Cách ấy làm sao kéo dài mãi được
    Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh
    Máu thịt nuôi lang sói
    Mẹ chết không thương tiếc
    Vỗ về con càng thêm đứt ruột
    Trong lòng đau xót lạ thường
    Mặt trời vì thế phải vàng uá
    Gió lạnh bỗng ào tới
    Người đi đường cũng đau đớn làm sao
    Ðêm qua ở trạm Tây Hà
    Tiệc tùng cung phụng khoa trương quá mức
    Gân hươu cùng vây cá
    Ðầy bàn thịt heo, thịt dê
    Quan lớn không thèm đụng đũa
    Ðám theo hầu chỉ nếm qua
    Vứt bỏ không luyến tiếc
    Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon
    Không biết trên đường cái
    Có mẹ con đói khổ nhà này
    Ai người vẽ bức tranh đó
    Ðem dâng lên nhà vua

    Dòng nào cung cấp thông tin cơ bản về bài thơ Những điều trông thấy?

    • A.

      Bài thơ rút trong Thanh Hiên thi tập, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • B.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • C.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, thơ tự do.

    • D.
      Bài thơ rút trong Nam trung tạp ngâm, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
  4. Câu 4

    Sở kiến hành

    Nguyễn Du

    Hữu phụ huề tam nhi
    Tương tương toạ đạo bàng
    Tiểu giả tại hoài trung
    Ðại giả trì trúc khuông
    Khuông trung hà sở thịnh
    Lê hoắc tạp tì khang
    Nhật án bất đắc thực
    Y quần hà khuông nhương
    Kiến nhân bất ngưỡng thị
    Lệ lưu khâm lang lang
    Quần nhi thả hỉ tiếu
    Bất tri mẫu tâm thương
    Mẫu tâm thương như hà
    Tuế cơ lưu dị hương
    Dị hương sảo phong thục
    Mễ giá bất thậm ngang
    Bất tích khí hương thổ
    Cẩu đồ cứu sinh phương
    Nhất nhân kiệt dung lực
    Bất sung tứ khẩu lương
    Duyên nhai nhật khất thực
    Thử kế an khả trường
    Nhãn hạ uỷ câu hác
    Huyết nhục tự sài lang
    Mẫu tử bất túc tuất
    Phủ nhi tăng đoạn trường
    Kỳ thống tại tâm đầu
    Thiên nhật giai vị hoàng
    Âm phong phiêu nhiên chí
    Hành nhân diệc thê hoàng
    Tạc tiêu Tây Hà dịch
    Cung cụ hà trương hoàng
    Lộc cân tạp ngư xí
    Mãn trác trần trư dương
    Trưởng quan bất hạ trợ
    Tiểu môn chỉ lược thường
    Bát khí vô cố tích
    Lân cẩu yếm cao lương
    Bất tri quan đạo thượng
    Hữu thử cùng nhi nương
    Thuỳ nhân tả thử đồ
    Trì dĩ phụng quân vương

    Những điều trông thấy

    Nguyễn Du

    Có người đàn bà dắt ba đứa con
    Cùng nhau ngồi bên đường
    Ðứa nhỏ trong bụng mẹ
    Ðứa lớn cầm giỏ tre
    Trong giỏ đựng gì lắm thế?
    Rau lê, hoắc lẫn cám
    Qua trưa rồi chưa được ăn
    Áo quần sao mà rách rưới quá
    Thấy người không ngẩng nhìn
    Nước mắt chảy ròng ròng trên áo
    Lũ con vẫn vui cười
    Không biết lòng mẹ đau
    Lòng mẹ đau ra sao?
    Năm đói lưu lạc đến làng khác
    Làng khác mùa màng tốt hơn
    Giá gạo không cao quá
    Không hối tiếc đã bỏ làng đi
    Miễn sao tìm được phương tiện sống
    Một người làm hết sức
    Không đủ nuôi bốn miệng ăn
    Dọc đường mỗi ngày đi ăn mày
    Cách ấy làm sao kéo dài mãi được
    Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh
    Máu thịt nuôi lang sói
    Mẹ chết không thương tiếc
    Vỗ về con càng thêm đứt ruột
    Trong lòng đau xót lạ thường
    Mặt trời vì thế phải vàng uá
    Gió lạnh bỗng ào tới
    Người đi đường cũng đau đớn làm sao
    Ðêm qua ở trạm Tây Hà
    Tiệc tùng cung phụng khoa trương quá mức
    Gân hươu cùng vây cá
    Ðầy bàn thịt heo, thịt dê
    Quan lớn không thèm đụng đũa
    Ðám theo hầu chỉ nếm qua
    Vứt bỏ không luyến tiếc
    Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon
    Không biết trên đường cái
    Có mẹ con đói khổ nhà này
    Ai người vẽ bức tranh đó
    Ðem dâng lên nhà vua

    Dòng nào cung cấp thông tin cơ bản về bài thơ Những điều trông thấy?

    • A.

      Bài thơ rút trong Thanh Hiên thi tập, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • B.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • C.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, thơ tự do.

    • D.
      Bài thơ rút trong Nam trung tạp ngâm, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
  5. Câu 5

    Sở kiến hành

    Nguyễn Du

    Hữu phụ huề tam nhi
    Tương tương toạ đạo bàng
    Tiểu giả tại hoài trung
    Ðại giả trì trúc khuông
    Khuông trung hà sở thịnh
    Lê hoắc tạp tì khang
    Nhật án bất đắc thực
    Y quần hà khuông nhương
    Kiến nhân bất ngưỡng thị
    Lệ lưu khâm lang lang
    Quần nhi thả hỉ tiếu
    Bất tri mẫu tâm thương
    Mẫu tâm thương như hà
    Tuế cơ lưu dị hương
    Dị hương sảo phong thục
    Mễ giá bất thậm ngang
    Bất tích khí hương thổ
    Cẩu đồ cứu sinh phương
    Nhất nhân kiệt dung lực
    Bất sung tứ khẩu lương
    Duyên nhai nhật khất thực
    Thử kế an khả trường
    Nhãn hạ uỷ câu hác
    Huyết nhục tự sài lang
    Mẫu tử bất túc tuất
    Phủ nhi tăng đoạn trường
    Kỳ thống tại tâm đầu
    Thiên nhật giai vị hoàng
    Âm phong phiêu nhiên chí
    Hành nhân diệc thê hoàng
    Tạc tiêu Tây Hà dịch
    Cung cụ hà trương hoàng
    Lộc cân tạp ngư xí
    Mãn trác trần trư dương
    Trưởng quan bất hạ trợ
    Tiểu môn chỉ lược thường
    Bát khí vô cố tích
    Lân cẩu yếm cao lương
    Bất tri quan đạo thượng
    Hữu thử cùng nhi nương
    Thuỳ nhân tả thử đồ
    Trì dĩ phụng quân vương

    Những điều trông thấy

    Nguyễn Du

    Có người đàn bà dắt ba đứa con
    Cùng nhau ngồi bên đường
    Ðứa nhỏ trong bụng mẹ
    Ðứa lớn cầm giỏ tre
    Trong giỏ đựng gì lắm thế?
    Rau lê, hoắc lẫn cám
    Qua trưa rồi chưa được ăn
    Áo quần sao mà rách rưới quá
    Thấy người không ngẩng nhìn
    Nước mắt chảy ròng ròng trên áo
    Lũ con vẫn vui cười
    Không biết lòng mẹ đau
    Lòng mẹ đau ra sao?
    Năm đói lưu lạc đến làng khác
    Làng khác mùa màng tốt hơn
    Giá gạo không cao quá
    Không hối tiếc đã bỏ làng đi
    Miễn sao tìm được phương tiện sống
    Một người làm hết sức
    Không đủ nuôi bốn miệng ăn
    Dọc đường mỗi ngày đi ăn mày
    Cách ấy làm sao kéo dài mãi được
    Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh
    Máu thịt nuôi lang sói
    Mẹ chết không thương tiếc
    Vỗ về con càng thêm đứt ruột
    Trong lòng đau xót lạ thường
    Mặt trời vì thế phải vàng uá
    Gió lạnh bỗng ào tới
    Người đi đường cũng đau đớn làm sao
    Ðêm qua ở trạm Tây Hà
    Tiệc tùng cung phụng khoa trương quá mức
    Gân hươu cùng vây cá
    Ðầy bàn thịt heo, thịt dê
    Quan lớn không thèm đụng đũa
    Ðám theo hầu chỉ nếm qua
    Vứt bỏ không luyến tiếc
    Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon
    Không biết trên đường cái
    Có mẹ con đói khổ nhà này
    Ai người vẽ bức tranh đó
    Ðem dâng lên nhà vua

    Dòng nào cung cấp thông tin cơ bản về bài thơ Những điều trông thấy?

    • A.

      Bài thơ rút trong Thanh Hiên thi tập, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • B.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • C.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, thơ tự do.

    • D.
      Bài thơ rút trong Nam trung tạp ngâm, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
  6. Câu 6

    Sở kiến hành

    Nguyễn Du

    Hữu phụ huề tam nhi
    Tương tương toạ đạo bàng
    Tiểu giả tại hoài trung
    Ðại giả trì trúc khuông
    Khuông trung hà sở thịnh
    Lê hoắc tạp tì khang
    Nhật án bất đắc thực
    Y quần hà khuông nhương
    Kiến nhân bất ngưỡng thị
    Lệ lưu khâm lang lang
    Quần nhi thả hỉ tiếu
    Bất tri mẫu tâm thương
    Mẫu tâm thương như hà
    Tuế cơ lưu dị hương
    Dị hương sảo phong thục
    Mễ giá bất thậm ngang
    Bất tích khí hương thổ
    Cẩu đồ cứu sinh phương
    Nhất nhân kiệt dung lực
    Bất sung tứ khẩu lương
    Duyên nhai nhật khất thực
    Thử kế an khả trường
    Nhãn hạ uỷ câu hác
    Huyết nhục tự sài lang
    Mẫu tử bất túc tuất
    Phủ nhi tăng đoạn trường
    Kỳ thống tại tâm đầu
    Thiên nhật giai vị hoàng
    Âm phong phiêu nhiên chí
    Hành nhân diệc thê hoàng
    Tạc tiêu Tây Hà dịch
    Cung cụ hà trương hoàng
    Lộc cân tạp ngư xí
    Mãn trác trần trư dương
    Trưởng quan bất hạ trợ
    Tiểu môn chỉ lược thường
    Bát khí vô cố tích
    Lân cẩu yếm cao lương
    Bất tri quan đạo thượng
    Hữu thử cùng nhi nương
    Thuỳ nhân tả thử đồ
    Trì dĩ phụng quân vương

    Những điều trông thấy

    Nguyễn Du

    Có người đàn bà dắt ba đứa con
    Cùng nhau ngồi bên đường
    Ðứa nhỏ trong bụng mẹ
    Ðứa lớn cầm giỏ tre
    Trong giỏ đựng gì lắm thế?
    Rau lê, hoắc lẫn cám
    Qua trưa rồi chưa được ăn
    Áo quần sao mà rách rưới quá
    Thấy người không ngẩng nhìn
    Nước mắt chảy ròng ròng trên áo
    Lũ con vẫn vui cười
    Không biết lòng mẹ đau
    Lòng mẹ đau ra sao?
    Năm đói lưu lạc đến làng khác
    Làng khác mùa màng tốt hơn
    Giá gạo không cao quá
    Không hối tiếc đã bỏ làng đi
    Miễn sao tìm được phương tiện sống
    Một người làm hết sức
    Không đủ nuôi bốn miệng ăn
    Dọc đường mỗi ngày đi ăn mày
    Cách ấy làm sao kéo dài mãi được
    Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh
    Máu thịt nuôi lang sói
    Mẹ chết không thương tiếc
    Vỗ về con càng thêm đứt ruột
    Trong lòng đau xót lạ thường
    Mặt trời vì thế phải vàng uá
    Gió lạnh bỗng ào tới
    Người đi đường cũng đau đớn làm sao
    Ðêm qua ở trạm Tây Hà
    Tiệc tùng cung phụng khoa trương quá mức
    Gân hươu cùng vây cá
    Ðầy bàn thịt heo, thịt dê
    Quan lớn không thèm đụng đũa
    Ðám theo hầu chỉ nếm qua
    Vứt bỏ không luyến tiếc
    Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon
    Không biết trên đường cái
    Có mẹ con đói khổ nhà này
    Ai người vẽ bức tranh đó
    Ðem dâng lên nhà vua

    Dòng nào cung cấp thông tin cơ bản về bài thơ Những điều trông thấy?

    • A.

      Bài thơ rút trong Thanh Hiên thi tập, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • B.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • C.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, thơ tự do.

    • D.
      Bài thơ rút trong Nam trung tạp ngâm, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
  7. Câu 7

    Sở kiến hành

    Nguyễn Du

    Hữu phụ huề tam nhi
    Tương tương toạ đạo bàng
    Tiểu giả tại hoài trung
    Ðại giả trì trúc khuông
    Khuông trung hà sở thịnh
    Lê hoắc tạp tì khang
    Nhật án bất đắc thực
    Y quần hà khuông nhương
    Kiến nhân bất ngưỡng thị
    Lệ lưu khâm lang lang
    Quần nhi thả hỉ tiếu
    Bất tri mẫu tâm thương
    Mẫu tâm thương như hà
    Tuế cơ lưu dị hương
    Dị hương sảo phong thục
    Mễ giá bất thậm ngang
    Bất tích khí hương thổ
    Cẩu đồ cứu sinh phương
    Nhất nhân kiệt dung lực
    Bất sung tứ khẩu lương
    Duyên nhai nhật khất thực
    Thử kế an khả trường
    Nhãn hạ uỷ câu hác
    Huyết nhục tự sài lang
    Mẫu tử bất túc tuất
    Phủ nhi tăng đoạn trường
    Kỳ thống tại tâm đầu
    Thiên nhật giai vị hoàng
    Âm phong phiêu nhiên chí
    Hành nhân diệc thê hoàng
    Tạc tiêu Tây Hà dịch
    Cung cụ hà trương hoàng
    Lộc cân tạp ngư xí
    Mãn trác trần trư dương
    Trưởng quan bất hạ trợ
    Tiểu môn chỉ lược thường
    Bát khí vô cố tích
    Lân cẩu yếm cao lương
    Bất tri quan đạo thượng
    Hữu thử cùng nhi nương
    Thuỳ nhân tả thử đồ
    Trì dĩ phụng quân vương

    Những điều trông thấy

    Nguyễn Du

    Có người đàn bà dắt ba đứa con
    Cùng nhau ngồi bên đường
    Ðứa nhỏ trong bụng mẹ
    Ðứa lớn cầm giỏ tre
    Trong giỏ đựng gì lắm thế?
    Rau lê, hoắc lẫn cám
    Qua trưa rồi chưa được ăn
    Áo quần sao mà rách rưới quá
    Thấy người không ngẩng nhìn
    Nước mắt chảy ròng ròng trên áo
    Lũ con vẫn vui cười
    Không biết lòng mẹ đau
    Lòng mẹ đau ra sao?
    Năm đói lưu lạc đến làng khác
    Làng khác mùa màng tốt hơn
    Giá gạo không cao quá
    Không hối tiếc đã bỏ làng đi
    Miễn sao tìm được phương tiện sống
    Một người làm hết sức
    Không đủ nuôi bốn miệng ăn
    Dọc đường mỗi ngày đi ăn mày
    Cách ấy làm sao kéo dài mãi được
    Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh
    Máu thịt nuôi lang sói
    Mẹ chết không thương tiếc
    Vỗ về con càng thêm đứt ruột
    Trong lòng đau xót lạ thường
    Mặt trời vì thế phải vàng uá
    Gió lạnh bỗng ào tới
    Người đi đường cũng đau đớn làm sao
    Ðêm qua ở trạm Tây Hà
    Tiệc tùng cung phụng khoa trương quá mức
    Gân hươu cùng vây cá
    Ðầy bàn thịt heo, thịt dê
    Quan lớn không thèm đụng đũa
    Ðám theo hầu chỉ nếm qua
    Vứt bỏ không luyến tiếc
    Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon
    Không biết trên đường cái
    Có mẹ con đói khổ nhà này
    Ai người vẽ bức tranh đó
    Ðem dâng lên nhà vua

    Dòng nào cung cấp thông tin cơ bản về bài thơ Những điều trông thấy?

    • A.

      Bài thơ rút trong Thanh Hiên thi tập, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • B.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • C.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, thơ tự do.

    • D.
      Bài thơ rút trong Nam trung tạp ngâm, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
  8. Câu 8

    Sở kiến hành

    Nguyễn Du

    Hữu phụ huề tam nhi
    Tương tương toạ đạo bàng
    Tiểu giả tại hoài trung
    Ðại giả trì trúc khuông
    Khuông trung hà sở thịnh
    Lê hoắc tạp tì khang
    Nhật án bất đắc thực
    Y quần hà khuông nhương
    Kiến nhân bất ngưỡng thị
    Lệ lưu khâm lang lang
    Quần nhi thả hỉ tiếu
    Bất tri mẫu tâm thương
    Mẫu tâm thương như hà
    Tuế cơ lưu dị hương
    Dị hương sảo phong thục
    Mễ giá bất thậm ngang
    Bất tích khí hương thổ
    Cẩu đồ cứu sinh phương
    Nhất nhân kiệt dung lực
    Bất sung tứ khẩu lương
    Duyên nhai nhật khất thực
    Thử kế an khả trường
    Nhãn hạ uỷ câu hác
    Huyết nhục tự sài lang
    Mẫu tử bất túc tuất
    Phủ nhi tăng đoạn trường
    Kỳ thống tại tâm đầu
    Thiên nhật giai vị hoàng
    Âm phong phiêu nhiên chí
    Hành nhân diệc thê hoàng
    Tạc tiêu Tây Hà dịch
    Cung cụ hà trương hoàng
    Lộc cân tạp ngư xí
    Mãn trác trần trư dương
    Trưởng quan bất hạ trợ
    Tiểu môn chỉ lược thường
    Bát khí vô cố tích
    Lân cẩu yếm cao lương
    Bất tri quan đạo thượng
    Hữu thử cùng nhi nương
    Thuỳ nhân tả thử đồ
    Trì dĩ phụng quân vương

    Những điều trông thấy

    Nguyễn Du

    Có người đàn bà dắt ba đứa con
    Cùng nhau ngồi bên đường
    Ðứa nhỏ trong bụng mẹ
    Ðứa lớn cầm giỏ tre
    Trong giỏ đựng gì lắm thế?
    Rau lê, hoắc lẫn cám
    Qua trưa rồi chưa được ăn
    Áo quần sao mà rách rưới quá
    Thấy người không ngẩng nhìn
    Nước mắt chảy ròng ròng trên áo
    Lũ con vẫn vui cười
    Không biết lòng mẹ đau
    Lòng mẹ đau ra sao?
    Năm đói lưu lạc đến làng khác
    Làng khác mùa màng tốt hơn
    Giá gạo không cao quá
    Không hối tiếc đã bỏ làng đi
    Miễn sao tìm được phương tiện sống
    Một người làm hết sức
    Không đủ nuôi bốn miệng ăn
    Dọc đường mỗi ngày đi ăn mày
    Cách ấy làm sao kéo dài mãi được
    Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh
    Máu thịt nuôi lang sói
    Mẹ chết không thương tiếc
    Vỗ về con càng thêm đứt ruột
    Trong lòng đau xót lạ thường
    Mặt trời vì thế phải vàng uá
    Gió lạnh bỗng ào tới
    Người đi đường cũng đau đớn làm sao
    Ðêm qua ở trạm Tây Hà
    Tiệc tùng cung phụng khoa trương quá mức
    Gân hươu cùng vây cá
    Ðầy bàn thịt heo, thịt dê
    Quan lớn không thèm đụng đũa
    Ðám theo hầu chỉ nếm qua
    Vứt bỏ không luyến tiếc
    Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon
    Không biết trên đường cái
    Có mẹ con đói khổ nhà này
    Ai người vẽ bức tranh đó
    Ðem dâng lên nhà vua

    Dòng nào cung cấp thông tin cơ bản về bài thơ Những điều trông thấy?

    • A.

      Bài thơ rút trong Thanh Hiên thi tập, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • B.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.

    • C.

      Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, thơ tự do.

    • D.
      Bài thơ rút trong Nam trung tạp ngâm, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
Xem trước